Ông bác sĩ Việt cộng trong Tổng Y viện Duy Tân

Thứ bảy, 20/12/2008 00:00

Bác sĩ Dũng vẫn tiếp tục công việc của mình
khi đã về hưu. 

(Cadn.com.vn) - Trong một bữa tiệc tại Đà Nẵng, một cố vấn Mỹ nói trước đám đông: “Người Mỹ sang đây để chống cộng sản, sao tụi bây không ủng hộ mà lại đi chống Mỹ?” thì lập tức một chàng thư sinh phản pháo: “Ông nói vậy là chẳng hiểu gì lịch sử Việt Nam cả! Khi chúng tôi chống Pháp để giải phóng dân tộc sắp thành công, tại sao người Mỹ lại ra sức ủng hộ Pháp? Tại sao Diệm - Nhu là người do Pháp đào tạo, các ông lại đưa về làm Tổng thống miền Nam Việt Nam?”. Người thanh niên can đảm đó chính là bác sĩ (BS) Lê Ngọc Dũng, một cơ sở nội tuyến của ta tại Tổng Y viện Duy Tân (TYVDT) và sau này là Phó Giám đốc Bệnh viện Đà Nẵng...

Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước tại Đà Nẵng, chàng thanh niên Lê Ngọc Dũng đã sớm ý thức được nỗi thống khổ của một dân tộc bị giặc ngoại xâm. Khi vào Sài Gòn để theo học ngành Y, Dũng đã tham gia tích cực phong trào đấu tranh chống chế độ bù nhìn Ngô Đình Diệm. Chính anh là người chở sinh viên Nguyễn Văn An (người đấu tranh chống Mỹ - Diệm nhiệt thành nhất Sài Gòn thời bấy giờ) đến Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi công lý. Năm 1966, sau khi tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn loại xuất sắc, Lê Ngọc Dũng về làm việc tại TYVDT ở Đà Nẵng, và tại đây chàng BS trẻ trở thành cơ sở nội tuyến của ta. TYVDT là bệnh viện quân y lớn của chính quyền Sài Gòn, là nơi tiếp nhận cứu chữa binh lính của địch và là nơi cán bộ, bộ đội của ta không may bị thương, bị địch bắt đưa về đây giam giữ, chữa trị trước khi đưa đến nơi tra tấn hay một nhà giam nào đó. Tuy là “sĩ quan” đứng trong hàng ngũ địch, nhưng BS Dũng đã chữa trị rất tận tình cho “đối phương”. Nhớ lại những năm làm việc trong TYVDT, BS Dũng bùi ngùi: “Tết Mậu Thân 1968, tôi đã cứu thoát nhiều cán bộ chủ chốt của Đặc khu ủy Quảng Đà như anh Hồ Nghinh - Bí thư Tỉnh ủy, anh Nguyễn Quang Thái - Trưởng ban Binh địch vận Quảng Đà... bằng cách cấp “giấy xuất viện” cho các ảnh ra khỏi thành phố trong lúc bị vây chặt khắp các ngả đường”.

Nhà thơ Phan Duy Nhân (tức Nguyễn Chính), nguyên quyền Trưởng ban Tôn giáo T.Ư đã nói về BS Dũng như sau: “Tết Mậu Thân, tôi bị địch bắn gãy nát chân tại chùa Tỉnh hội, khi chúng chuyển tôi về TYVDT, nhìn những người mặc áo blouse đứng quanh và cái chân gần như nát, tôi nghĩ chắc họ cưa chân của mình. Song lúc đó Lê Ngọc Dũng đã quyết định mổ để cứu cái chân tôi và băng bó rất cẩn thận, rồi giấu cả thuốc viên trụ sinh, kháng sinh trong lớp vải băng và ở băng-ca dưới lưng tôi nằm”. Đặc biệt, chính Lê Ngọc Dũng là người giữ lại nguyên vẹn trang thiết bị của TYVDT khi ta tiến công giải phóng Đà Nẵng. Ông nhớ lại: “Vào ngày 26-4-1975, TYVDT vẫn còn 38 CBCS của ta bị giam giữ và điều trị tại đây. Lúc này một số thương phế binh ngụy đã chạy sang khu dành cho tù binh của ta, với ý định thủ tiêu tất cả. Chúng cướp súng bảo vệ, khóa trái cửa sẵn sàng hành động. Tôi lập tức thuyết phục họ không được manh động và ra lệnh cho lính bảo vệ phá khóa cửa sắt, giải thoát cho tất cả anh em tù binh tại đây và liên hệ với các cơ sở nội thành đưa anh em trốn thoát. Dưới sự chỉ đạo của tôi, TYVDT vẫn nguyên vẹn cho đến khi ta giải phóng Đà Nẵng. Sau này, trang thiết bị tại đó rất cần cho chúng ta sau chiến tranh!”.

Bác sĩ Lê Ngọc Dũng (ngoài cùng bên trái) cùng các đồng nghiệp ở nước ngoài. 

Sau ngày giải phóng, BS Dũng tiếp tục công việc người thầy thuốc của mình. Ông “bám đường sắt” cùng anh em công nhân khôi phục tuyến đường này từ Đà Nẵng đi Quảng Nam, luôn có mặt ở những nơi nguy hiểm nhất. Ông cười và kể với tôi: “Có lần, một anh bộ đội ở Hòa Cầm khi đốt rác bị một đầu đạn M79 “khoan” thẳng vào ngực và mắc kẹt tại đó mà không nổ. Bệnh nhân rất nguy kịch. Trước tình hình đó, có ý kiến phải làm một “căn buồng mổ đặc chủng” bằng bao cát để mổ, đề phòng quả đạn phát nổ. Tôi suy nghĩ rất nhiều, nếu làm được như thế thì bệnh nhân đã chết nên quyết định mổ bình thường! Đó là ca mổ mà đến giờ khi nhắc đến, những người có mặt hôm ấy đều nổi gai ốc! Khi tôi đã lấy được đầu đạn ra đưa cho 2 cô y tá, căng thẳng thế nào mà 2 cô làm rơi xuống đất, cả phòng như chết đứng! Rất may quả đạn không nổ!”. Chính những cống hiến to lớn sau chiến tranh nên năm 1979, BS Dũng được phong tặng danh hiệu “Chiến sĩ Thi đua”.

Ai biết BS Dũng mới hiểu ông yêu thành phố này biết bao, cả đời ông là sự cống hiến thầm lặng cho quê hương, cho mọi người. Khi đất nước thực hiện “mở cửa”, chính ông là người đầu tiên đặt nền móng cho việc kêu gọi tài trợ từ các tổ chức từ thiện và y tế của thế giới tài trợ trang thiết bị hiện đại cho Bệnh viện Đà Nẵng, ông là người chủ trương xin tổ chức và kêu gọi nhà tài trợ bên ngoài đưa đội ngũ BS tại Đà Nẵng đi tu nghiệp nước ngoài, cũng như đưa chương trình “phẫu thuật nụ cười” đến với Đà Nẵng như ta thấy hiện nay.

BS Dũng cho tôi xem hàng trăm lá thư mà bệnh nhân được ông cứu chữa gửi đến cảm ơn, chia sẻ. Ông còn kể về những chuyến đi Nga, Mỹ, Pháp... tu nghiệp hoặc trao đổi kinh nghiệm và kết luận: “Đi đâu cũng không bằng Đà Nẵng mình! Hồi qua Mỹ, mấy người bạn giờ định cư bên đó “khịa” tôi là “Giỏi như mày mà ở lại Việt Nam là dại!”. Mình nói ngay: “Tôi sinh ra, lớn lên, học thành tài và phục vụ đất nước mình, đó là lý tưởng của tôi, chẳng có gì là dại hay khôn cả!”. Chia tay BS Dũng tại căn nhà lộng gió cạnh bãi biển Mỹ Khê, tôi chợt nhớ câu nói của ông Nguyễn Quang Thái: “Dũng là người khiêm tốn, sâu sắc và cống hiến hết mình”...

Lưu Hoàng Anh